Giới thiệu
Viện Thuỷ điện và Năng lượng tái tạo (Institute for Hydro power and Renewable energy - IHR) được thành lập theo quy định số 55/QĐ-BNN ngày 24/04/2008 của Bộ Nông Nghiệp và Phát triển nông thôn về việc thành lập Viện Thủy điện và Năng lượng tái tạo.
Thông báo
Liên kết
Thời tiết
Tỷ giá ngoại tệ
| Mã | Mua | Bán | |
|---|---|---|---|
| AUD | 20.209 | 20.626 | ![]() |
| CAD | 20.088 | 20.564 | ![]() |
| CHF | 21.694 | 22.164 | ![]() |
| EUR | 26.144 | 26.603 | ![]() |
| GBP | 32.420 | 33.056 | ![]() |
| HKD | 2.640 | 2.708 | ![]() |
| JPY | 258 | 264 | ![]() |
| SGD | 16.085 | 16.499 | ![]() |
| THB | 650 | 678 | ![]() |
| USD | 20.820 | 20.870 | ![]() |
Tỷ giá Vàng
Thống kê
Lượt truy cập: 146660
Trực tuyến: 2
Tin tức & Sự kiện » Tin trong nước và quốc tế »
Tốc độ tăng trưởng trung bình của sản lượng điện ở Việt Nam trong 20 năm trở lại đây đạt mức rất cao, khoảng 12-13%/năm – tức là gần gấp đôi tốc độ tăng trưởng GDP của nền kinh tế. Chiến lược công nghiệp hóa và duy trì tốc độ tăng trưởng cao để thực hiện „dân giàu, nước mạnh“ và tránh nguy cơ tụt hậu sẽ còn tiếp tục đặt lên vai ngành điện nhiều trọng trách và thách thức to lớn trong những thập niên tới. Để hoàn thành được những trọng trách này, ngành điện phải có khả năng dự báo nhu cầu về điện năng của nền kinh tế, trên cơ sở đó hoạch định và phát triển năng lực cung ứng của mình.
Việc ước lượng nhu cầu về điện không hề đơn giản, bởi vì nhu cầu về điện là nhu cầu dẫn xuất. Chẳng hạn như nhu cầu về điện sinh hoạt tăng cao trong mùa hè là do các hộ gia đình có nhu cầu điều hòa không khí, đá và nước mát. Tương tự như vậy, các công ty sản xuất cần điện là do điện có thể được kết hợp với các yếu tố đầu vào khác (như lao động, nguyên vật liệu v.v.) để sản xuất ra các sản phẩm cuối cùng. Nói cách khác, chúng ta không thể ước lượng nhu cầu về điện một cách trực tiếp mà phải thực hiện một cách gián tiếp thông qua việc ước lượng nhu cầu của các sản phẩm cuối cùng.(1) Nhu cầu này, đến lượt nó, lại phụ thuộc vào nhiều biến số kinh tế và xã hội khác. Bảng dưới đây cung cấp dữ liệu lịch sử của một số biến số ảnh hưởng tới nhu cầu về điện ở Việt Nam trong những năm qua.
Một cách khác để nhìn vào khía cạnh cầu về điện năng là phân tách
tổng cầu về điện theo các ngành kinh tế (Hình 1). Ta thấy số liệu ở Bảng
1 và Hình 1 tương thích với nhau. Nhu cầu về điện năng trong công
nghiệp và sinh hoạt/ hành chính chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng nhu
cầu.
Năm 2005, điện phục vụ tiêu dùng và công nghiệp chiếm tỷ trọng rất lớn,
lần lượt là 43,81% và 45,91%, trong khi 11% còn lại dành cho nông nghiệp
và các nhu cầu khác. Nhu cầu điện của khu vực công nghiệp tăng cao là
hệ quả trực tiếp của chủ trương công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh
tế, mà một biểu hiện của nó là tốc độ tăng trưởng giá trị SXCN trung
bình trong hơn 10 năm qua đạt mức khá cao là 10,5%. Còn ở khu vực tiêu
dùng, cùng với mức tăng dân số, tốc độ đô thị hóa khá cao, và gia tăng
thu nhập của người dân, nhu cầu về điện tiêu dùng cũng tăng với tốc độ
rất cao. Kết quả là nhu cầu về điện của toàn nền kinh tế tăng trung bình
gần 13%/năm, và tốc độ tăng của mấy năm trở lại đây thậm chí còn cao
hơn mức trung bình. Theo dự báo, tốc độ tăng chóng mặt này sẽ còn tiếp
tục được duy trì trong nhiều năm tới. Đây thực sự là một thách thức to
lớn, buộc ngành điện phải phát triển vượt bậc để có thể đáp ứng được nhu
cầu phát triển kinh tế của đất nước.

Bây giờ hãy thử kết hợp những dự báo về nhu cầu điện năng của nền
kinh tế với năng lực cung ứng của ngành điện. Nếu tốc độ phát triển nhu
cầu về điện tiếp tục duy trì ở mức rất cao 14-15%/năm như mấy năm trở
lại đây thì đến năm 2010 cầu về điện sẽ đạt mức 90.000 GWh, gấp đôi mức
cầu của năm 2005. Theo dự báo của Tổng Công ty Điện lực Việt Nam, nếu
tốc độ tăng trưởng GDP trung bình tiếp tục được duy trì ở mức 7,1%/năm
thì nhu cầu điện sản xuất của Việt Nam vào năm 2020 sẽ là khoảng 200.000
GWh, vào năm 2030 là 327.000 GWh. Trong khi đó, ngay cả khi huy động
tối đa các nguồn điện truyền thống thì sản lượng điện nội địa của chúng
ta cũng chỉ đạt mức tương ứng là 165.000 GWh (năm 2020) và 208.000 GWh
(năm 2030). Điều này có nghĩa là nền kinh tế sẽ bị thiếu hụt điện một
cách nghiêm trọng, và tỷ lệ thiếu hụt có thể lên tới 20-30% mỗi năm. Nếu
dự báo này của Tổng Công ty Điện lực trở thành hiện thực thì hoặc là
chúng ta phải nhập khẩu điện với giá đắt gấp 2-3 lần so với giá sản xuất
trong nước, hoặc là hoạt động sản xuất của nền kinh tế sẽ rơi vào đình
trệ, còn đời sống của người dân sẽ bị ảnh hưởng nghiêm trọng.
Không phải đợi đến năm 2010 hay 2020, ngay trong thời điểm hiện tại
chúng ta cũng đã được “nếm mùi” thiếu điện. Năm 2005, lần đầu tiên sau
nhiều năm trở lại đây, người dân ở hai trung tâm chính trị và kinh tế
của đất nước chịu cảnh cắt điện luôn phiên gây nhiều khó khăn cho sinh
hoạt và ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế (2)
(1) Về mặt kỹ thuật, để ước lượng chính xác nhu cầu
về điện, chúng ta còn phải xem xét khả năng thay thế giữa điện năng và
các yếu tố đầu vào khác trong quá trình sản xuất ra sản phẩm cuối cùng;
và điều này phụ thuộc vào công nghệ tương lai mà trên thực tế rất khó có
thể dự báo một cách chính xác.
(2)”Thiếu điện: Hà Nội ngột ngạt”, VietnamNet – http://vietnamnet.vn/xahoi/doisong/2005/05/437949/
2. Một số lựa chọn chính sách của Việt Nam
Đứng trước thách thức thiếu hụt điện (không nằm ngoài xu thế chung của
toàn cầu), chúng ta cần cân nhắc những biện pháp ứng xử thích hợp. Trong
ngắn hạn, việc tiết kiệm điện trong các hoạt động sản suất và sinh hoạt
đóng vai trò hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, cũng có thể xem xét
phương án tăng giá điện như đề xuất hiện nay của Bộ Công nghiệp. Việc
tăng giá điện một mặt có tác dụng điều chỉnh mức cầu về điện năng, mặt
khác giúp tăng tích lũy để mở rộng đầu tư cho ngành điện. Tuy nhiên, vì
việc tăng giá điện sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến đời sống của quảng đại
nhân dân và của hoạt động sản xuất kinh doanh nên giải pháp tăng giá
điện cần được cân nhắc một cách thận trọng. Phương án tăng giá điện phải
tính đến tính công bằng giữa các nhóm dân cư có mức thu nhập khác nhau,
trong đó cần hạn chế đến mức độ tối đa tác động tiêu cực đối với các
nhóm dân cư có thu nhập thấp. Bên cạnh đó, cũng phải lưu ý rằng điện là
một yếu tố đầu vào thiết yếu của hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vì vậy,
việc tăng giá điện sẽ có thể ảnh hưởng tới mức lạm phát vốn đã xấp xỉ
ngưỡng 2 con số. Không những thế, nếu nhìn sang các nước xung quanh thì
thấy ngay với mức giá hiện tại, giá điện của Việt Nam đã cao hơn một số
nước trong khu vực như Trung Quốc, Thái-lan, In-đô-nê-xia, và
Ma-lay-xia. Như vậy, việc tăng thêm giá điện 10-15% trong năm nay và
những năm kế tiếp sẽ ảnh hưởng tiêu cực tới năng lực cạnh tranh của nền
kinh tế vốn đã bị giảm liên tục trong mấy năm trở lại đây.
Trong trung hạn và dài hạn, Việt Nam cần có chiến lược đảm bảo an ninh
năng lượng bằng cách một mặt mở rộng khai thác những nguồn năng lượng
truyền thống; mặt khác, thậm chí còn quan trọng hơn, phát triển các
nguồn năng lượng mới, đặc biệt là các nguồn năng lượng sạch và có khả
năng tái tạo. Khả năng này phụ thuộc rất nhiều vào những phát triển của
công nghệ trong tương lai cũng như vào mức giá tương đối của các nguồn
năng lượng khác nhau. Cho đến thời điểm này, chúng ta mới chú trọng đến
phương án thứ nhất, tức là tiếp tục khai thác các nguồn năng lượng
truyền thống, chủ yếu là thủy điện. Về kế hoạch phát triển nguồn năng
lượng mới, ngày 3/1/2006 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt
”Chiến lược ứng dụng năng lượng nguyên tử vì mục đích hoà bình tới năm
2020”. Theo dự báo của Viện Năng lượng Nguyên tử Quốc gia thì vào năm
2020, nếu theo đúng tiến độ thì công suất điện hạt nhân sẽ đạt mức 2000
MW, bằng 7% tổng công suất. Cũng theo dự báo này, khi ấy nhiệt điện khí
sẽ chiếm tỷ trọng lớn nhất (38%), sau đó là đến thủy điện (29%), nhiệt
điện than (17%) và nhập khẩu (9%).
Trong phần cuối của bài viết này, chúng tôi tập trung phân tích tiềm
năng của một dạng năng lượng tái tạo và sạch ở Việt Nam, đó là năng
lượng gió. Phần này không có tham vọng trình bày một cách tổng quan hay
đầy đủ mọi khía cạnh của việc phát triển năng lượng gió, mà chỉ nhằm góp
thêm một lời bàn về khả năng phát triển năng lượng gió nhằm đa dạng hóa
nguồn cung cấp năng lượng, đồng thời đáp ứng được yêu cầu về bảo vệ môi
trường và phát triển năng lượng bền vững cho Việt Nam. Một điều đáng
lưu ý là trong hàng loạt giải pháp phát triển nguồn điện để đáp ứng nhu
cầu phát triển kinh tế (như nhập khẩu điện, phát triển thủy điện, hay
điện hạt nhân), dường như Việt Nam còn bỏ quên điện gió, một nguồn điện
mà trong mấy năm trở lại đây có tốc độ phát triển cao nhất trên thị
trường điện thế giới, hơn nữa giá thành ngày càng rẻ và rất thân thiện
với môi trường.
3. Giá thành của điện gió, liệu có đắt như định kiến?
Cho đến tận những năm 1990, nhiều người vẫn cho rằng giá thành (bao gồm
giá lắp đặt và vận hành) của các trạm điện gió khá cao. Nhưng ngày nay,
định kiến này đang được nhìn nhận và đánh giá lại, đặc biệt khi quan
niệm giá thành không chỉ bao gồm chi phí kinh tế mà còn gồm cả những chi
phí ngoài (external cost – như chi phí về xã hội do phải tái định cư,
hay về môi trường do ô nhiễm). Trong khi nguồn năng lượng từ
nhiên liệu hóa thạch như than đá, dầu mỏ, khí đốt đang bị coi là kém ổn
định và có xu thế tăng giá, thì cùng với sự phát triển nhanh chóng của
công nghệ, giá thành của các trạm điện gió càng ngày càng rẻ hơn.

Hình 2: Giá thành xây lắp trạm điện gió (trục tung) tính theo công suất mỗi trạm phát (trục hoành). Năm 1998, giá thành chưa đến 1000USD/kW. Năm 2020, giá sẽ giảm xuống chỉ còn 650USD/kW. (*)
Thử lấy một ví dụ cụ thể để so sánh giá thành của điện gió và thủy
điện. Nhà máy thủy điện Sơn La với 6 tổ máy, tổng công suất thiết kế là
2400 MW, được dự kiến xây dựng trong 7 năm với tổng mức đầu tư là 2,4 tỷ
USD. Giá thành khi phát điện (chưa tính đến chi phí môi trường) là 70
USD/MWh. Như vậy để có được 1 KW công suất cần đầu tư 1.000USD trong 7
năm. Trong khi đó theo thời giá năm 2003 đầu tư cho 1 KW điện gió ở
nhiều nước Châu Âu cũng vào khoảng 1.000 USD. Đáng lưu ý là giá thành
này giảm đều hàng năm do cải tiến công nghệ. Nếu thời gian sử dụng trung
bình của mỗi trạm điện gió là 20 năm thì chi phí khấu hao cho một KWh
điện gió là sẽ 14 USD. Cộng thêm chi phí thường xuyên thì tổng chi phí
quản lý và vận hành sẽ nằm trong khoảng 48 – 60 USD/MWh – tương đương
với thủy điện, vốn được coi là nguồn năng lượng rẻ và hiệu quả. Theo dự
đoán, đến năm 2020 giá thành điện gió sẽ giảm đáng kể, chỉ khoảng 600
USD/KW, khi ấy chi phí quản lý và vận hành sẽ giảm đáng kể, chỉ còn
khoảng 30 USD/MWh (3, 4)
Ở Việt Nam cũng đã có một dự án điện gió với công suất 50 MW, đó là nhà
máy điện gió Phương Mai ở Bình Định phục vụ cho Khu Kinh tế Nhơn Hội.
Tổng đầu tư giai đoạn 1 cho 50MW điện là 65 triệu USD, và giá bán điện
dự kiến là 45 USD/MWh(5).
Tiếc rằng tiến độ xây dựng nhà máy quá chậm chạp (mặc dù thời gian dự
kiến xây lắp chỉ trong khoảng một năm), và vì vậy không thể đánh giá
hiệu quả kinh tế của dự án một cách chính xác để so sánh với giá thành
của các nguồn năng lượng khác hiện có ở Việt Nam.
(*)Trong bài viết của TS. Vũ Thành Tự Anh trên trang của Chương trình Fulbright, có một chút nhầm lẫn về đơn vị kW->MW. DEVI đã đính chính lại thông tin này.
(3) “Wind Power Economic – Wind Energy Costs – Investment Factors.” EWEA 2005 – www.eawa.org (các giá thành được quy đổi theo tỷ giá 1 Euro = 1,2 USD)
(4)Danish Wind Industry Association, http://www.windpower.org/en/tour/econ/index.htm
(5)“Điện năng từ gió, tiềm năng chưa được đánh thức”, http://www.vnexpress.net/Vietnam/Khoahoc/2005/05/3B9DE056/
4. Những lợi ích về môi trường và xã hội của điện gió
Năng lượng gió được đánh giá là thân thiện nhất với môi trường và ít gây
ảnh hưởng xấu về mặt xã hội. Để xây dựng một nhà máy thủy điện lớn cần
phải nghiên cứu kỹ lưỡng các rủi ro có thể xảy ra với đập nước. Ngoài
ra, việc di dân cũng như việc mất các vùng đất canh tác truyền thống sẽ
đặt gánh nặng lên vai những người dân xung quanh khu vực đặt nhà máy, và
đây cũng là bài toán khó đối với các nhà hoạch định chính sách. Hơn
nữa, các khu vực để có thể quy hoạch các đập nước tại Việt Nam cũng
không còn nhiều. Song hành với các nhà máy điện hạt nhân là nguy cơ gây
ảnh hưởng lâu dài đến cuộc sống của người dân xung quanh nhà máy. Các
bài học về rò rỉ hạt nhân cộng thêm chi phí đầu tư cho công nghệ, kĩ
thuật quá lớn khiến càng ngày càng có nhiều sự ngần ngại khi sử dụng
loại năng lượng này. Các nhà máy điện chạy nhiên liệu hóa thạch thì luôn
là những thủ phạm gây ô nhiễm nặng nề, ảnh hưởng xấu đến môi trường và
sức khỏe người dân. Hơn thế nguồn nhiên liệu này kém ổn định và giá có
xu thế ngày một tăng cao.
Khi tính đầy đủ cả các chi phí ngoài – là những chi phí phát sinh bên
cạnh những chi phí sản xuất truyền thống, thì lợi ích của việc sử dụng
năng lượng gió càng trở nên rõ rệt. So với các nguồn năng lượng gây ô
nhiễm (ví dụ như ở nhà máy nhiệt điện Ninh Bình) hay phải di dời quy mô
lớn (các nhà máy thủy điện lớn), khi sử dụng năng lượng gió, người dân
không phải chịu thiệt hại do thất thu hoa mầu hay tái định cư, và họ
cũng không phải chịu thêm chi phí y tế và chăm sóc sức khỏe do ô nhiễm.

Hình 3: Chi phí xã hội của điện gió, nhiệt điện than và khí ở Đan Mạch
Ngoài ra với đặc trưng phân tán và nằm sát khu dân cư, năng lượng gió
giúp tiết kiệm chi phí truyền tải. Hơn nữa, việc phát triển năng lượng
gió ở cần một lực lượng lao động là các kỹ sư kỹ thuật vận hành và giám
sát lớn hơn các loại hình khác, vì vậy giúp tạo thêm nhiều việc làm với
kỹ năng cao.
Tại các nước Châu Âu, các nhà máy điện gió không cần đầu tư vào đất đai
để xây dựng các trạm tourbin mà thuê ngay đất của nông dân. Giá thuê đất
(khoảng 20% giá thành vận hành thường xuyên) giúp mang lại một nguồn
thu nhập ổn định cho nông dân, trong khi diện tích canh tác bị ảnh hưởng
không nhiều.
Cuối cùng, năng lượng gió giúp đa dạng hóa các nguồn năng lượng, là một
điều kiện quan trọng để tránh phụ thuộc vào một hay một số ít nguồn năng
lượng chủ yếu; và chính điều này giúp phân tán rủi ro và tăng cường an
ninh năng lượng.
5. Tiềm năng điện gió của Việt Nam
Nằm trong khu vực cận nhiệt đới gió mùa với bờ biển dài, Việt Nam có một
thuận lợi cơ bản để phát triển năng lượng gió. So sánh tốc độ gió trung
bình trong vùng Biển Đông Việt Nam và các vùng biển lân cận cho thấy
gió tại Biển Đông khá mạnh và thay đổi nhiều theo mùa(6)

Hình 4: Bản đồ tiềm năng điện gió Việt Nam. Tốc độ trung bình năm tại độ cao 65m. Nguồn: Wind Resource Atlas of Southeast Asia 2001
Trong chương trình đánh giá về Năng lượng cho Châu Á, Ngân hàng Thế giới đã có một khảo sát chi tiết về năng lượng gió khu vực Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam (Bảng 2). Như vậy Ngân hàng Thế giới đã làm hộ Việt Nam một việc quan trọng, trong khi Việt Nam còn chưa có nghiên cứu nào đáng kể. Theo tính toán của nghiên cứu này, trong bốn nước được khảo sát thì Việt Nam có tiềm năng gió lớn nhất và hơn hẳn các quốc gia lân cận là Thái Lan, Lào và Campuchia. Trong khi Việt Nam có tới 8,6% diện tích lãnh thổ được đánh giá có tiềm năng từ „tốt“ đến „rất tốt“ để xây dựng các trạm điện gió cỡ lớn thì diện tích này ở Campuchia là 0,2%, ở Lào là 2,9%, và ở Thái-lan cũng chỉ là 0,2%.(7).

Tổng tiềm năng điện gió của Việt Nam ước đạt 513.360 MW tức là bằng
hơn 200 lần công suất của thủy điện Sơn La, và hơn 10 lần tổng công suất
dự báo của ngành điện vào năm 2020. Tất nhiên, để chuyển từ tiềm năng
lý thuyết thành tiềm năng có thể khai thác, đến tiềm năng kỹ thuật, và
cuối cùng, thành tiềm năng kinh tế là cả một câu chuyện dài; nhưng điều
đó không ngăn cản việc chúng ta xem xét một cách thấu đáo tiềm năng to
lớn về năng lượng gió ở Việt Nam.
Nếu xét tiêu chuẩn để xây dựng các trạm điện gió cỡ nhỏ phục vụ cho phát
triển kinh tế ở những khu vực khó khăn thì Việt Nam có đến 41% diện
tích nông thôn có thể phát triển điện gió loại nhỏ. Nếu so sánh con số
này với các nước láng giềng thì Campuchia có 6%, Lào có 13% và Thái Lan
là 9% diện tích nông thôn có thể phát triển năng lượng gió. Đây quả thật
là một ưu đãi dành cho Việt Nam mà chúng ta còn thờ ơ chưa nghĩ đến
cách tận dụng.

Hình 5: Gió mạnh vào tháng 12 đến tháng 2 năm sau là sự bổ sung hữu ích cho các tháng thiếu nước của các thủy điện. Nguồn: Wind Resource Atlas of Southeast Asia 2001
(6)“Biển Đông”, tập 2, Khí tượng Thủy văn Động lực Biển – Phạm Văn Ninh chủ biên., 2003. NXB Đại học Quốc gia
(7)“Wind Energy Resource Atlas of Southeast Asia”, 2001. Có thể download toàn bộ cuốn Atlas này tại địa chỉ: http://www.worldbank.org/astae/werasa/complete.pdf
6. Đề xuất một khu vực xây dựng điện gió cho Việt Nam
Ở Việt Nam, các khu vực có thể phát triển năng lượng gió không trải đều
trên toàn bộ lãnh thổ. Với ảnh hưởng của gió mùa thì chế độ gió cũng
khác nhau. Nếu ở phía bắc đèo Hải Vân thì mùa gió mạnh chủ yếu trùng với
mùa gió đông bắc, trong đó các khu vực giàu tiềm năng nhất là Quảng
Ninh, Quảng Bình, và Quảng Trị. Ở phần phía nam đèo Hải Vân, mùa gió
mạnh trùng với mùa gió tây nam, và các vùng tiềm năng nhất thuộc cao
nguyên Tây Nguyên, các tỉnh ven biển đồng bằng sông Cửu Long, và đặc
biệt là khu vực ven biển của hai tỉnh Bình Thuận, Ninh Thuận. Theo
nghiên cứu của NHTG, trên lãnh thổ Việt Nam, hai vùng giàu tiềm năng
nhất để phát triển năng lượng gió là Sơn Hải (Ninh Thuận) và vùng đồi
cát ở độ cao 60-100m phía tây Hàm Tiến đến Mũi Né (Bình Thuận). Gió vùng
này không những có vận tốc trung bình lớn, mà còn có một thuận lợi
khác, đó là số lượng các cơn bão khu vực ít và gió có xu thế ổn định.
Đây là những điều kiện rất
thuận lợi để phát triển năng lượng gió.

Hình 6: Khu vực Ninh Thuận – Bình Thuận, Tây Nguyên được đánh giá là có tiềm năng gió lớn hơn cả
Trong những tháng có gió mùa, tỷ lệ gió nam và đông nam lên đến 98% với vận tốc trung bình 6-7 m/s(8)
tức là vận tốc có thể xây dựng các trạm điện gió công suất 3 – 3,5 MW.
Thực tế là người dân khu vực Ninh Thuận cũng đã tự chế tạo một số máy
phát điện gió cỡ nhỏ nhằm mục đích thắp sáng. Ở cả hai khu vực này dân
cư thưa thớt, thời tiết khô nóng, khắc nghiệt, và là những vùng dân tộc
đặc biệt khó khăn của Việt Nam.
Mặc dù có nhiều thuận lợi như đã nêu trên, nhưng chúng ta cần phải lưu ý
một số điểm đặc thù của năng lượng gió để có thể phát triển nó một cách
có hiệu quả nhất. Nhược điểm lớn nhất của năng lượng gió là sự phụ
thuộc vào điều kiện thời tiết và chế độ gió. Vì vậy khi thiết kế, cần
nghiên cứu hết sức chi tiết về chế độ gió, địa hình cũng như loại gió
không có các dòng rối (có ảnh hưởng không tốt đến máy phát). Cũng vì
những lý do có tính phụ thuộc vào điều kiện môi trường như trên, năng
lượng gió tuy ngày càng phổ biến và quan trọng nhưng không thể là nguồn
năng lượng chủ lực. Tuy nhiên, khả năng kết hợp giữa điện gió và thủy
điện tích năng lại mở ra cơ hội cho Việt Nam, một mặt đa dạng hóa được
nguồn năng lượng trong đó kết hợp những nguồn năng truyền thống với
những nguồn lượng tái tạo sạch với chi phí hợp lý; mặt khác khai thác
được thế mạnh, đồng thời hạn chế của mỗi nguồn năng lượng, và tận dụng
các nguồn năng lượng này trong mối quan hệ bổ sung lẫn nhau. Một điểm
cần lưu ý nữa là khả năng các trạm điện gió sẽ gây ô nhiễm tiếng ồn rong
khi vận hành, cũng như có thể phá vỡ cảnh quan tự nhiên và có thể ảnh
hưởng đến tín hiệu của các sóng vô tuyến nếu các yếu tố về kỹ thuật
không được quan tâm đúng mức. Do vậy, khi xây dựng các khu điện gió cần
tính toán khoảng cách hợp lý đến các khu dân cư, khu du lịch để không
gây những tác động tiêu cực.
7. Thay cho lời kết
Nhằm đáp ứng mục tiêu tăng trưởng đầy tham vọng, trong trung hạn Việt
Nam cần tiếp tục khai thác các nguồn năng lượng truyền thống. Về dài
hạn, Việt Nam cần xây dựng chiến lược và lộ trình phát triển các nguồn
năng lượng mới. Trong chiến lược này, chi phí kinh tế (bao gồm cả chi
chí trong và chi chí ngoài về môi trường, xã hội) cần phải được phân
tích một cách kỹ lưỡng, có tính đến những phát triển mới về mặt công
nghệ, cũng như trữ lượng và biến động giá của các nguồn năng lượng thay
thế. Trong các nguồn năng lượng mới này, năng lượng gió nổi lên như một
lựa chọn xứng đáng, và vì vậy cần được đánh giá một cách đầy đủ.
Việt Nam có nhiều thuận lợi để phát triển năng lượng gió. Việc không đầu
tư nghiên cứu và phát triển điện gió sẽ là một sự lãng phí rất lớn
trong khi nguy cơ thiếu điện luôn thường trực, ảnh hưởng đến tốc độ tăng
trưởng kinh tế và năng lực cạnh tranh quốc gia. Trong khi đó, hiện nay
chiến lược quốc gia về điện dường như mới chỉ quan tâm tới thủy điện lớn
và điện hạt nhân -những nguồn năng lượng có mức đầu tư ban đầu rất lớn
và ẩn chứa nhiều rủi ro về cả mặt môi trường và xã hội.
Nếu nhìn ra thế giới thì việc phát triển điện gió đang là một xu thế
lớn, thể hiện ở mức tăng trưởng cao nhất so với các nguồn năng lượng
khác. Khác với điện hạt nhân vốn cần một quy trình kỹ thuật và giám sát
hết sức nghiêm ngặt, việc xây lắp điện gió không đòi hỏi quy trình khắt
khe đó. Với kinh nghiệm phát triển điện gió thành công của Ấn Độ, Trung
Quốc, và Phi-lip-pin, và với những lợi thế về mặt địa lý của Việt Nam,
chúng ta hoàn toàn có thể phát triển năng lượng điện gió để đóng góp vào
sự phát triển chung của nền kinh tế. Liệu Việt Nam có thể „đi tắt, đón
đầu“ trong phát triển nguồn năng lượng hay không phụ thuộc rất nhiều vào
các quyết sách ngày hôm nay.
+ PHẢN HỒI CỦA BẠN ĐỌC VỀ BÀI VIẾT:
- Nhà máy thuỷ điện chống lệnh Thủ tướng (?!) (14/04/2011)
- Xây Đại học Thủy Lợi rộng 57,3 ha tại huyện Chương Mỹ (13/04/2011)
- Khai mạc Đại hội Đảng XI - sự kiện chính trị lớn nhất (13/01/2011)
- Thuỷ điện không làm lũ tăng thêm (25/11/2010)
- 'Thủy điện không gây lũ lụt' (09/11/2010)
- Dẹp bỏ những dự án thủy điện gây hại (02/11/2010)
- Cần giám sát “thủy điện gây lũ” (02/11/2010)
- Thủ tướng yêu cầu rà soát lại các hồ chứa thủy lợi, thủy điện (02/11/2010)
- Đập thuỷ điện: Lợi bất cập hại? (01/11/2010)
- Hướng đến kỷ nguyên của năng lượng tái tạo (01/11/2010)


